Trong đó, đáng để ý nhất là cấu tạo bộ mái ngói với rất nhiều lớp mái lớn nhỏ cùng những ô văng dốc trên các cửa sổ
Tuy nhiên, cũng phải dìm những gì người Pháp làm được cho Hà Nội về kiến trúc, quy hoạch. TS Philippe Le Failler cho biết: Không kể khu 36 phố xá thì Hà Nội những năm 1930 là một Thành phố mới, được sắp xếp theo những luật lệ quy hoạch thị thành và những chuẩn kiến trúc hiện đại nhất của thế giới thời bấy giờ.
Sau khi khánh thành, hí trường tỉnh thành đêm đêm sáng đèn đón khán giả tới xem các chương trình biểu diễn từ âm nhạc đến kịch.
Điều dễ nhận thấy là những công trình công được xây dựng trong giai đoạn này thường vút lên trên một khoảng không gian rộng rãi và thuận tiện về giao thông. Là trung tâm quyền lực thực dân địa, người Pháp muốn Hà Nội phải biểu đạt được sức mạnh của mình. Nếu ông không phải là người đề xướng thì ông cũng là người đưa lý thuyết đối thoại giữa các nền văn hóa và ý tưởng kết hợp những nhân tố kiến trúc phương Đông với phương Tây tạo ra phong cách kiến trúc mới – phong cách kiến trúc Đông Dương, với những công trình nổi tiếng vẫn còn hiện diện như những biểu trưng của Hà Nội như: Đại học Đông Dương, Sở Tài chính Đông Dương (nay là Trụ sở Bộ Ngoại giao), đặc biệt là bảo tồn Louis Finot của Viện Viễn Đông Bác cổ (nay là Bảo tàng Lịch sử nhà nước Việt Nam).
Rạng đông. Nên các công trình công khi được xây dựng vừa phải đảm bảo phục vụ công việc chung, vừa phải tạo ra những chuẩn mực, uy lực và biểu lộ sự trọng thể. Hơn nữa, sau một thời kì vỡ hoang các công trình mang phong cách thuần túy châu Âu cho thấy nó hoàn toàn không hiệp về mặt khí hậu cũng như tập quán sinh hoạt, truyền thống thẩm mỹ và cảnh quan Việt Nam.
Với sự tài ba, khéo léo# của các kỹ sư, năm 1902, chiếc cầu sắt vĩ đại mang tên Paul Doumer, do Công ty Daydé & Pillé thiết kế và thi công với 19 nhịp, đặt trên 20 trụ, dài 2.
Cùng với việc xây dựng các công trình kiến trúc tiêu biểu như trên, người Pháp còn xây dựng Vườn Bách thảo, các quảng trường, các công viên, vườn hoa và các đài tưởng niệm mà đến giờ vẫn còn tác dụng. Từ những dấu ấn trước nhất Tháng 10/1875, người Pháp khởi công xây dựng các công trình như Tòa lãnh sự, các tòa nhà hai tầng làm nơi ở cho sỹ quan, Trụ sở chỉ huy quân sự, trại lính và kho tàng… Đây là những công trình kiến trúc đầu tiên mang dấu ấn văn minh Pháp hiện hữu trên mảnh đất Hà Nội mà hiện giờ ta vẫn có thể thấy trong khu Bệnh viện Quân đội 108.
Tiếp đó, một loạt các công trình như: Phủ Thống sứ, Dinh Toàn quyền, nhà Bưu điện, khách sạn Metropol… cũng được xây dựng. Giữa không gian khoáng đãng, đây đó nổi lên một công trình cao lớn, hoa lệ và người ta có thể hình dung ra người qua đường hồi đó thấy chúng thật hùng vĩ. Sẽ là chưa đủ khi nói về di sản kiến trúc xây dựng của Pháp ở Hà Nội mà không kể đến cây cầu Long Biên lịch sử.
Hệ mái của công trình thực sự có ý nghĩa và che nắng chống chói, chống mưa hắt. Hội sở Bộ Ngoại giao (trước đây là Sở Tài chính Đông Dương) Và những di sản quý giá cần trân trọng gìn giữ Nhiều năm nghiên cứu về lịch sử Hà Nội, PGS
Đến sự giao thoa kiến trúc Việt-Pháp Đáng chú ý, trong thời kì này, bản thân người Pháp, nhất là giới trí thức tiến bộ cũng nhận thấy rằng chẳng thể “đề cao” văn hóa Pháp bằng cách áp đặt nguyên bản kiểu cách kiến trúc chính quốc vào một nước có truyền thống văn hóa lâu đời. Hồ hết các công trình này đều do các kiến trúc sư Pháp thiết kế theo phong cách cổ điển nhằm tạo sự nghiêm chỉnh, đồ sộ để mô tả sự vững của chính quyền bảo hộ và mong muốn ở lại Việt Nam lâu dài của người Pháp.
Theo KTS Trần Quốc Bảo (giảng sư Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, ĐH Xây dựng): mặc dầu về mặt tổ chức không gian chức năng, Sở Tài chính Đông Dương được thiết kế hoàn toàn theo phong cách kinh điển của các tòa nhà hành chính Pháp lúc bấy giờ. Đến năm 1911 công trình rạp hát Thành phố hoàn tất, sau đó là việc chỉnh trang công trình kéo dài đến năm 1913.
Tuy nhiên, đến những năm đầu thập niên 20 của thế kỷ 20, kiến trúc Việt Nam đã có ảnh hưởng trở lại đối với kiến trúc Pháp. Chúng phải phô bày sự vĩ đại và tạo dấu ấn thẩm mỹ trong lòng người. Do đó, kiến trúc Pháp vào Việt Nam đã nhanh chóng thay đổi để thích ứng với môi trường tự nhiên và hài hòa với văn hóa nước sở tại.
Hệ thống cây xanh được kéo từ vườn hoa phía trước vào sâu trong sân Bảo tàng làm cho công trình chừng như mọc lên từ khối cây xanh nhiệt đới. Hệ thống mái chồng mái, cửa thông gió, lấy sáng được đặc biệt lưu ý và kết hợp khéo léo với nhiều chi tiết kiến trúc Á Đông.
Có thể nói, trong cả thảy di sản kiến trúc Thăng Long-Hà Nội có một phần di sản văn hóa Pháp. Vượt qua những biến cố lịch sử, những công trình tiêu biểu mà người Pháp để lại là những di sản văn hóa quý và chúng ta cần trân trọng giữ giàng. Bước đầu, gương mặt thị thành Hà Nội được thay đổi. Điều này chứng tỏ chính quyền rất quan hoài đến việc bảo tồn di sản kiến trúc cho dù nó được nhập cảng và xưa kia đã từng bị áp đặt.
Chính nơi này trở thành “vườn ươm văn hóa Pháp” tại Hà Nội. Ngay khi vừa ra đời, cây cầu đã minh chứng cho năng lực chế ngự tự nhiên của con người và đi vào ca dao của người Tràng An: Hà Nội có cầu Long Biên/Vừa dài vừa rộng bắc trên sông Hồng.
Công trình là một thành công lớn của Hébrard trong ý đồ tạo ra một hình loại kiến trúc phối hợp, phù hợp với khí hậu nhiệt đới và phong cảnh khu vực.
TS Philippe Le Failler, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội cho biết: Tới Hà Nội vào năm 1921, Ernest Hesbrard chủ trương đổi mới và đoạn tuyệt với lề luật tái hiện những xu hướng kiến trúc đang thịnh hành ở chính quốc vào miền nhiệt đới. Tháng 12/1902, Toàn quyền Đông Dương cho vay trước 100. Theo PGS
TS Phạm Xanh cho biết: Năm 1990, Charavy và Savelon đã trúng thầu xây dựng tuốt tuột công trình hí viện thị thành. Phủ chủ toạ (trước đây là Dinh toàn quyền Đông Dương) Theo PGS.
Nó cũng chứng tỏ rằng những người dân thành thị đã thích ứng với những nguyên tố kiến trúc nhập khẩu từ nước ngoài và đưa chúng vào thế giới hình dong, đồng thời biến chúng thành di sản của mình. Nhìn chung, ngay trong thời đoạn đầu xây dựng Hà Nội, phương pháp quy hoạch thị thành phương Tây được người Pháp ứng dụng khá chặt đẹp.
TS Philippe Le Failler, hiện tại Hà Nội đang từng ngày thay da đổi thịt nhưng phần đông các tòa nhà công sở được xây dựng từ thời Pháp thuộc vẫn được giữ giàng cẩn thận và hầu như thường hề thay đổi. Theo các nhà nghiên cứu về lịch sử kiến trúc, phải trong thời đoạn ban đầu khi kiến trúc Pháp thâm nhập, tầng lớp Việt Nam lúc đó chưa có đầy đủ các điều kiện để thu nạp, nên kiến trúc Việt Nam bị lấn lướt và phải đón nhận một cách bức.
Quá trình giao lưu làm cho kiến trúc Việt Nam bước sang trang mới. Đặc biệt, bảo tồn Louis Finot (Bảo tàng Lịch sử) xây dựng trong những năm 1928-1932 do kiến trúc sư Hébrand thiết kế là một thành công đầy ấn tượng của phong cách kiến trúc Đông Dương.
Những vị trí tiện lợi được dành cho các công thự, dinh thự; dài, nhà thương cũng được xây dựng, đường xá được mở mang.
500m (tính cả đường dẫn lên hai đầu cầu) đã hoàn thành. Một trong những người ghi dấu ấn trội theo khuynh hướng này là kiến trúc sư Ernest Hébrard. Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam (trước đây làBảo tàng Louis Finot thu ộc Viện Viễn Đông Bác Cổ). 000 đồng để xây dựng hí viện và mỗi năm hoàn một lần, kéo dài trong 10 năm.
Các chi tiết kiến trúc bản địa được xử lý nhuần nhuyễn. Nói về công trình này, PGS. Các lỗ thông hơi tổ chức trên sàn và sát trần bảo đảm thoát nhiệt tốt.
Ít lâu sau, họ bắt đầu xây dựng các công trình vững chắc trên khu tô giới. Việc người Pháp phá thành Hà Nội, hủy bỏ cấu trúc thị thành thời phong kiến là điều đáng tiếc. Nhưng về mặt xử lý kiến trúc, Hébrard đã khéo léo# kết hợp với các hình thức kiến trúc phương Đông để tạo ra những nét bay bổng, hài hòa với phong cảnh.
TS Phạm Xanh, Khoa Lịch sử, Trường Đại học KHXHNV Hà Nội: Năm 1873 là năm đánh dấu sự thâm nhập Hà Nội của người Pháp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét